TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
0
Đăng nhập
MENU
Giới thiệu
Giới Thiệu Thư Viện
Chức năng, nhiệm vụ
Tổ chức nhân sự
Sản phẩm - Dịch vụ
Sản phẩm
Dịch vụ
Dịch vụ mượn trả tài liệu
Dịch vụ đọc tại chỗ
Dịch vụ tìm tin theo yêu cầu
Tra cứu
Tìm theo đề mục
Tra cứu nâng cao
Tìm chuyên gia
Tra cứu toàn văn
Tra cứu liên thư viện
Tài liệu theo học phần
Tạp chí
Hướng dẫn
Nội quy
Hướng dẫn sử dụng
Quy trình
Bạn đọc
0
Đăng nhập
TRA CỨU
Tìm theo đề mục
Tra cứu nâng cao
Tìm chuyên gia
Tra cứu toàn văn
Tra cứu liên thư viện
Tài liệu theo học phần
TÀI LIỆU IN
Skip Navigation Links.
Tất cả (26323)
Tài liệu tham khảo (4035)
Giáo trình (1271)
Sách ngoại văn (1986)
Đề tài, báo cáo NCKH (880)
Ấn phẩm định kỳ (490)
Bài trích tạp chí (13675)
Khóa luận (1708)
Luận văn (2093)
Luận án (47)
Tài liệu hội thảo (8)
Bài báo quốc tế (130)
Tài liệu số
Skip Navigation Links.
Tất cả (8907)
Tài liệu tham khảo (55)
Giáo trình (80)
Sách ngoại văn (27)
Đề tài, báo cáo NCKH (431)
Ấn phẩm định kỳ (2)
Bài trích tạp chí (7334)
Khóa luận (75)
Luận văn (877)
Luận án (21)
Bài giảng (5)
Thư mục - Vốn tư liệu
Tất cả
Bài trích tạp chí
084:
C15
So sánh mối liên quan giữa một số chỉ dấu sinh học (Lipase, CRP, PCT, IG%) với mức độ nặng bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHồ Chí Minh
Nguyễn Thị Thúy Liễu
Tạp chí Y học Việt Nam Tập 558 Tháng 1 - 2026
Tổng hội Y học Việt Nam,
2026
H. :
Vie
Tiêu hóa
Chỉ dấu sinh học Lipase, CRP, PCT, IG%
Viêm tụy cấp
Mô tả
Marc
Tài liệu in(1)
Tài liệu số(1)
Mô tả biểu ghi
ID:
34168
NLM
C15
Tác giả CN
Nguyễn Thị Thúy Liễu
- Cb.
Nhan đề
So sánh mối liên quan giữa một số chỉ dấu sinh học (Lipase, CRP, PCT, IG%) với mức độ nặng bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh / Nguyễn Thị Thúy Liễu
Thông tin xuất bản
H. :Tổng hội Y học Việt Nam,2026
Tóm tắt
Tuổi trung vị của bệnh nhân là 47 (IQR 36–66), nam giới chiếm 60,7%. Theo CTSI, tỷ lệ bệnh nhân mức độ nặng là 31,2%. Nồng độ CRP, PCT và IG% tăng có ý nghĩa ở nhóm nặng (p < 0,05) và tương quan thuận với mức độ nặng theo cả ba thang điểm, đặc biệt với CTSI. PCT có hệ số tương quan cao nhất (r = 0,56; p < 0,001), trong khi Lipase huyết thanh tăng cao ở hầu hết bệnh nhân với trung vị 1.065,5 U/L khẳng định giá trị của xét nghiệm này trong chẩn đoán xác định viêm tụy cấp
Thuật ngữ chủ đề
Tiêu hóa
Từ khóa tự do
Chỉ dấu sinh học Lipase, CRP, PCT, IG%
;
Viêm tụy cấp
Địa chỉ
100Kho Bài trích(1): BT13650
Tệp tin điện tử
https://lib.hpmu.edu.vn/kiposdata2/tapchi2026/anhbiatc/thang1so1558_thumbimage.jpg
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
Tag
Giá trị
000
00000nab#a2200000ui#4500
001
34168
002
6
004
22BD3CE1-90A5-4CE8-9A77-1FCAAFA42A5C
005
202607151637
008
081223s2026 vm| vie
009
1 0
039
[ ]
|y
20260715163720
|z
phuongntt
041
[ ]
|a
Vie
084
[ ]
|a
C15
100
[ ]
|a
Nguyễn Thị Thúy Liễu
|e
Cb.
245
[ ]
|a
So sánh mối liên quan giữa một số chỉ dấu sinh học (Lipase, CRP, PCT, IG%) với mức độ nặng bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh /
|c
Nguyễn Thị Thúy Liễu
260
[ ]
|a
H. :
|b
Tổng hội Y học Việt Nam,
|c
2026
520
[ ]
|a
Tuổi trung vị của bệnh nhân là 47 (IQR 36–66), nam giới chiếm 60,7%. Theo CTSI, tỷ lệ bệnh nhân mức độ nặng là 31,2%. Nồng độ CRP, PCT và IG% tăng có ý nghĩa ở nhóm nặng (p < 0,05) và tương quan thuận với mức độ nặng theo cả ba thang điểm, đặc biệt với CTSI. PCT có hệ số tương quan cao nhất (r = 0,56; p < 0,001), trong khi Lipase huyết thanh tăng cao ở hầu hết bệnh nhân với trung vị 1.065,5 U/L khẳng định giá trị của xét nghiệm này trong chẩn đoán xác định viêm tụy cấp
650
[ ]
|a
Tiêu hóa
653
[ ]
|a
Chỉ dấu sinh học Lipase, CRP, PCT, IG%
653
[ ]
|a
Viêm tụy cấp
691
[ ]
|a
CTĐT Tiến sĩ Nội khoa
691
[ ]
|a
CTĐT Bác sĩ nội trú Nội khoa
773
[ ]
|t
Tạp chí Y học Việt Nam Tập 558 Tháng 1 - 2026
|d
Hà Nội
852
[ ]
|a
100
|b
Kho Bài trích
|j
(1): BT13650
856
[1 ]
|u
https://lib.hpmu.edu.vn/kiposdata2/tapchi2026/anhbiatc/thang1so1558_thumbimage.jpg
890
[ ]
|a
1
|b
0
|c
1
|d
2
Dòng
Mã vạch
Bản sao
Nơi lưu
Tình trạng
Cho phép yêu cầu
1
BT13650
1
Kho Bài trích
#1
BT13650
Nơi lưu
Kho Bài trích
Tình trạng
Tài liệu số
1
Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 558, Số 1, 2026-1
›
Bình luận