banner HPMU
TRA CỨU
Thư mục - Vốn tư liệu
Hiệu quả gây mê tĩnh mạch cho nội soi đường tiêu hóa bằng Propofol phối hợp với Fentanyl

Hiệu quả gây mê tĩnh mạch cho nội soi đường tiêu hóa bằng Propofol phối hợp với Fentanyl

 Tạp chí Y học Việt Nam Tập 560 Tháng 3 Số 1 - 2026
 Tổng hội Y học Việt Nam, 2026
 H. : Tr.102-106 Vie
Mô tả biểu ghi
ID:34737
NLM C19
Tác giả CN Nguyễn Bá Thanh
Nhan đề Hiệu quả gây mê tĩnh mạch cho nội soi đường tiêu hóa bằng Propofol phối hợp với Fentanyl / Nguyễn Bá Thanh
Thông tin xuất bản H. :Tổng hội Y học Việt Nam,2026
Mô tả vật lý Tr.102-106
Tóm tắt Nghiên cứu cho thấy so với nhóm P, nhóm P-F có thời gian khởi mê ngắn hơn đáng kể (2,0 ± 0,40 phút so với 2,5 ± 0,45 phút, p < 0,001). Tổng liều propofol trung bình sử dụng ở nhóm P-F thấp hơn 14%(177,6 ± 42,5 mg) so với nhóm P (206,6 ± 54,4 mg), (p < 0,001). Số lần thức tỉnh cần can thiệp ở nhóm P-F cũng ít hơn (2,5 ± 1,0 lần) so với nhóm P (3,6 ± 1,3 lần), (p < 0,001). Về tính an toàn, tỷ lệ BN bị tụt huyết áp ở nhóm P cao hơn rõ rệt so với nhómP-F (p = 0,03). Chất lượng hồi tỉnh ở nhóm P-F tốt hơn, với tỷ lệ buồn nôn (p = 0,006), chóng mặt (p = 0,014) và mệt mỏi (p < 0,001) đều thấp hơn đáng kể so với nhóm P. Tỷ lệ BN đánh giá "rất hài lòng" ở nhóm P-F cao hơn nhóm P (p = 0,001).
Thuật ngữ chủ đề Ngoại khoa
Từ khóa tự do Gây mê tĩnh mạch; Nội soi đường tiêu hóa
Tác giả(bs) CN Phạm Thị Lan
Địa chỉ 100Kho Bài trích(1): BT14090
Tệp tin điện tử https://lib.hpmu.edu.vn/kiposdata2/tapchi2026/anhbiatc/thang3so1t560_thumbimage.jpg
MARC
Hiển thị đầy đủ trường & trường con
TagGiá trị
00000000nab#a2200000ui#4500
00134737
0026
004C4F96014-AB1A-49F9-B56A-A0074E0D60C1
005202609170919
008081223s2026 vm| vie
0091 0
039[ ] |y 20260917091943 |z phuongntt
041[ ] |a Vie
084[ ] |a C19
100[ ] |a Nguyễn Bá Thanh
245[ ] |a Hiệu quả gây mê tĩnh mạch cho nội soi đường tiêu hóa bằng Propofol phối hợp với Fentanyl / |c Nguyễn Bá Thanh
260[ ] |a H. : |b Tổng hội Y học Việt Nam, |c 2026
300[ ] |a Tr.102-106
520[ ] |a Nghiên cứu cho thấy so với nhóm P, nhóm P-F có thời gian khởi mê ngắn hơn đáng kể (2,0 ± 0,40 phút so với 2,5 ± 0,45 phút, p < 0,001). Tổng liều propofol trung bình sử dụng ở nhóm P-F thấp hơn 14%(177,6 ± 42,5 mg) so với nhóm P (206,6 ± 54,4 mg), (p < 0,001). Số lần thức tỉnh cần can thiệp ở nhóm P-F cũng ít hơn (2,5 ± 1,0 lần) so với nhóm P (3,6 ± 1,3 lần), (p < 0,001). Về tính an toàn, tỷ lệ BN bị tụt huyết áp ở nhóm P cao hơn rõ rệt so với nhómP-F (p = 0,03). Chất lượng hồi tỉnh ở nhóm P-F tốt hơn, với tỷ lệ buồn nôn (p = 0,006), chóng mặt (p = 0,014) và mệt mỏi (p < 0,001) đều thấp hơn đáng kể so với nhóm P. Tỷ lệ BN đánh giá "rất hài lòng" ở nhóm P-F cao hơn nhóm P (p = 0,001).
650[ ] |a Ngoại khoa
653[ ] |a Gây mê tĩnh mạch
653[ ] |a Nội soi đường tiêu hóa
691[ ] |a CTĐT Tiến sĩ Ngoại khoa
691[ ] |a CTĐT Bác sĩ nội trú Ngoại khoa
700[ ] |a Phạm Thị Lan
773[ ] |t Tạp chí Y học Việt Nam Tập 560 Tháng 3 Số 1 - 2026 |d Hà Nội
852[ ] |a 100 |b Kho Bài trích |j (1): BT14090
856[1 ] |u https://lib.hpmu.edu.vn/kiposdata2/tapchi2026/anhbiatc/thang3so1t560_thumbimage.jpg
890[ ] |a 1 |b 0 |c 1 |d 2
Dòng Mã vạch Bản sao Nơi lưu Tình trạng Cho phép yêu cầu
1 BT14090 1 Kho Bài trích
#1 BT14090
Nơi lưu Kho Bài trích
Tình trạng
Tài liệu số
1
Bình luận